HỘI CHỨNG LỐI THOÁT NGỰC (THORACIC OUTLET SYNDROME- TOS)***
Hội chứng lối thoát ngực là một tình trạng, theo đó triệu chứng được tạo ra từ việc chèn ép các dây thần kinh, mạch máu, hoặc cả hai, vì một lối đi hẹp thông qua một khu vực (lối thoát ngực) giữa nền cổ và nách. Lối thoát ngực được bao quanh bởi cơ, xương và các mô khác. Bất kỳ tình trạng nào gây phì đại hay chuyển động của các mô hoặc gần lối thoát ngực đều có thể gây ra hội chứng lối thoát ngực. Các nguyên nhân thường gặp của hội chứng lối thoát ngực bao gồm chấn thương vật lý như một tai nạn xe hơi, tổn thương lặp đi lặp lại do công việc hoặc các hoạt động liên quan đến thể thao, một khuyết tật bẩm sinh nào đó (chẳng hạn như có một xương sườn phụ), mang thai, tăng cân, và các khối u ở phía trên của phổi (hiếm). Ngay cả một chấn thương dài trong quá khứ có thể dẫn đến hội chứng lối thoát ngực trong hiện tại. Đôi khi các bác sĩ không thể xác định nguyên nhân của hội chứng lối thoát ngực.
Hội chứng lối thoát ngực được điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và các biện pháp giảm đau. Hầu hết bệnh nhân đều cải thiện khi dùng các phương pháp tiếp cận thận trọng này. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ,bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật
TRIỆU CHỨNG:
Có 3 loại hội chứng lối thoát ngực:
Hội chứng lối thoát ngực do căn nguyên thần kinh: loại này đặc trưng bởi sự chèn ép đám rồi thần kinh cánh tay. Đám rối thần kinh cánh tay là một mạng lưới các dây thần kinh xuất phát từ tuỷ sống, kiểm soát vận động của các cơ và cảm giác ở vai, cánh tay và bàn tay. Trong hầu hết trường hợp của hội chứng lối thoát ngực triệu chứng là về thần kinh.
Hội chứng lối thoát ngực do căn nguyên mạch máu: xảy ra khi một hoặc nhiều động mạch, tĩnh mạch dưới xương đòn bị chèn ép.
Hội chứng lối thoát ngực không đặc hiệu: nó còn được gọi là hội chứng lối thoát ngực thông thường hay hội chứng lối thoát ngực còn đang tranh cãi . Một số bác sĩ không tin nó tồn tại, trong khi những người khác nói rằng đó là một rối loạn thường gặp. Những bệnh nhân thuộc loại này có những cơn đau mạn tính nằm trong khu vực “lối thoát ngực” và cơn đau tăng lên khi vận động, nhưng không xác định được nguyên nhân cụ thể của các cơn đau.
Hội chứng lối thoát ngực ảnh hưởng đến chủ yếu đến chi trên, đặc biệt là cánh tay và bàn tay. Cánh tay và bàn tay hầu như lúc nào cũng đau, đau liên tục. Bệnh nhân đau nhói, nóng. Cũng có thể, cơn đau chỉ có ở một phần của bàn tay, như mặt trong các ngón tay thứ 4 và thứ 5, hoặc cả bàn tay. Ngoài ra, bệnh nhân có thể đau ở mặt trong của cẳng tay và cánh tay, vùng cổ, vùng ngực dưới xương đòn, vùng nách, và lưng trên (như trong cơ thang và vùng cơ trám). Bên cạnh đó còn có cá triệu chứng khác như bàn tay xanh tím, tay này lạnh hơn tay kia, yếu cơ. Ngứa ran cũng có thể xuất hiện.
Hội chứng lối thoát ngực thường là nguyên nhân cơ bản của các tình trạng khôngchữa khỏi ở chi trên như vai tê cứng và hội chứng ống cổ tay dù đã tuân theo các phương pháp điều trị chuẩn.
Triệu chứng hội chứng ngực lối thoát ngực có thể khác nhau, tùy thuộc vào những cấu trúc bị chèn ép. Khi dây thần kinh bị chèn, dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng lối thoát ngực do căn nguyên thần kinh thường bao gồm:
Teo cơ mô cái ( Bàn tay Gilliatt-Sumner )
Tê, ngứa ran ở các ngón tay
Đau vùng vai và cổ
Đau ở cánh tay hoặc bàn tay
Yếu khớp
Các dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng lối thoát ngực do căn nguyên mạch máu – sự chèn ép một hoặc nhiều tĩnh mạch và động mạch – có thể bao gồm:
Sự đổi màu của bàn tay (màu xanh, tím).
Có hiện tượng máu vón cục ở vùng dưới xương đòn (huyết khối tĩnh mạch dưới đòn). Cánh tay đau, sưng và màu xanh tím, thường xảy ra sau khi hoạt động thể chất nặng, có thể là một dấu hiệu của chèn ép tĩnh mạch hoặc huyết khối tĩnh mạch dưới đòn, được gọi là Hội chứng Paget-Schroetter.
Cánh tay trở nên đau và sưng, có thể do máu đóng thành khối.
Đau nhói một vùng dưới xương đòn .
Thiếu máu (xanh xao) một ngón, vài ngón tay hay thậm chí cả bàn tay.
Không có mạch hay mạch yếu ở vùng tay bị tổn thương.
Những nốt nhỏ, màu đen trên ngón tay.
Mạch máu não bị suy khi hội chứng này ảnh hưởng đến động mạch dưới đòn. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến động mạch đốt sống, trường hợp này nó có thể tạo ra mù thoáng qua, và tắc mạch gây nhồi máu não
NGUYÊN NHÂN
Nói chung, nguyên nhân của hội chứng lối thoát ngực là ép của các dây thần kinh và mạch máu trong lối thoát ngực, ngay dưới xương đòn. Nguyên nhân của sự chèn ép bao gồm :
Khiếm khuyết bẩm sinh: một xương sườn phụ nằm phía trên xương sườn đầu tiên hoặc một dải sợi chặt nối xương sống với xương sườn.
Thường xuyên ở trong tư thế rũ vai hoặc giữ đầu phía trước có thể gây ra chèn ép lối thoát ngực.
Chấn thương: như tai nạn xe hơi gây ra những thay đổi bên trong, sau đó chèn ép các dây thần kinh trong lối thoát ngực. Các triệu chứng liên đến một vụ chấn thương thường khởi phát trễ.
Lặp đi lặp lại hoạt động: gõ trên một máy tính trong thời gian dài, làm trên một dây chuyền lắp ráp hoặc liên tục nâng vật gì đó qua. Vận động viên, chẳng như cầu thủ ném bóng chày và bơi lội, cũng có thể bị hội lối thoát ngực.
Áp lực lên các khớp xương : đối với béo phì, một khối lượng rất nặng đặt trên khớp xương cũng như mang theo một chiếc túi quá khổ.
Mang thai: Bởi vì các khớp xương nới lỏng trong thời kỳ mang thai.
KIỂM TRA VÀ CHẨN ĐOÁN:
Chẩn đoán hội chứng lối thoát ngực khó khăn vì các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng có thể khác nhau rất nhiều. Để chẩn đoán hội chứng này, bác sĩ sẽ khám và kết hợp với các cận lâm sàng chẩn đoán hình ảnh và tìm hiểu bệnh sử bệnh nhân.
Khám nghiệm lâm sàng :tìm các dấu hiệu bên ngoài của hội chứng như sự đổi màu nhạt trong cánh tay hoặc giới hạn phạm vi chuyển động.
Bệnh sử: hỏi về tiền sử bệnh và triệu chứng, cũng như nghề nghiệp và các hoạt động thể chất.
Kiểm tra hành động mà gây ra các triệu chứng để giúp xác định nguyên nhân của tình trạng, và cũng sẽ giúp loại trừ các nguyên nhân khác có thể có các triệu chứng tương tự.
Chẩn đoán Hình ảnh và nghiên cứu thần kinh: Để xác định chẩn đoán hội chứng lối thoát ngực, thực hiện thêm các xét nghiệm sau:
*X-quang: tìm xem có xương sườn phụ không và cũng có thể loại trừ các điều kiện khác có thể gây ra các triệu chứng.
*Chụp cộng hưởng từ (MRI): Những hình ảnh này có thể giúp xác định vị trí và nguyên nhân gây ra ép các dây thần kinh của đám rối thần kinh cánh tay hoặc động mạch dưới đòn. Những hình ảnh quét cũng có thể tiết lộ bất kỳ dị tật bẩm sinh – chẳng hạn như một dải sợi kết nối xương sống của bạn với xương sườn hoặc xương sườn phụ có thể là nguyên nhân gây ra các triệu chứng.
Electromyography (EMG): cho phép khảo sát cơ và dây thần kinh đang hoạt động ra sao. Để tiến hành các kiểm tra, một kim điện cực nhỏ được đưa vào thông qua da và vào các cơ gần nơi đang có triệu chứng. Các hoạt động điện được phát hiện bởi các điện cực này được hiển thị trên một màn hình và có thể được nghe qua loa.
Nghiên cứu dẫn truyền thần kinh: phương pháp này đo tốc độ dẫn truyền các xung qua dây thần kinh, để đánh giá tổn thương thần kinh.
Thoracic Outlet Syndrome (TOS)
Medical Author: William C. Shiel Jr., MD, FACP, FACR
Medical Editor: Jerry R. Balentine, DO, FACEP
Thoracic outlet syndrome facts