Nội dung bài viết
Hiểu về bệnh tiểu đường: Chẩn đoán và điều trị
Làm thế nào để nhận biết bệnh tiểu đường?
Bác sĩ có thể nghi ngờ bạn mắc bệnh tiểu đường nếu bạn có một số yếu tố nguy cơ của bệnh tiểu đường, hoặc nếu bạn có mức đường cao trong nước tiểu. Mức đường máu (còn gọi là glucose máu, đường huyết) có thể cao do tụy không sản xuất hoặc sản xuất ít insulin (tiểu đường loại 1) hoặc do cơ thể không đáp ứng bình thường với insulin (tiểu đường loại 2).
Để chẩn đoán, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn làm một trong ba xét nghiệm sau đây. Trong đa số trường hợp, bác sĩ của bạn sẽ lặp lại xét nghiệm có giá trị cao hơn để xác định chẩn đoán:
- Xét nghiệm đường huyết lúc đói: là xét nghiệm kiểm tra mức đường máu của bạn vào buổi sáng trước khi ăn. Nếu mức đường máu lớn hơn hoặc bằng 126 mg/dl, bạn có thể mắc bệnh tiểu đường.
- Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống: là xét nghiệm trong đó bạn sẽ phải uống một lượng glucose hằng định. Sau đó tiến hành lấy máu xét nghiệm mỗi 30 đến 60 phút trong suốt 3 tiếng sau khi uống. Nếu sau khi uống 2 tiếng mà mức đường máu của bạn vẫn cao hơn hoặc bằng 200mg/dl. Bạn có thể mắc bệnh tiểu đường.
- Xét nghiệm HbA1c máu: là một xét nghiệm máu đơn giản cho biết mức đường máu trung bình của bạn trong 2-3 tháng gần đây. Nếu HbA1c cao hơn hoặc bằng 6,5%, bạn có thể mắc bệnh tiểu đường.
Bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm tự kháng thể kênh vận chuyển kẽm 8 (ZnT8Ab). Xét nghiệm máu này, cùng với những thông tin khác và kết quả những xét nghiệm khác. Có thể giúp chẩn đoán xác định một người mắc bệnh tiểu đường loại 1. Mục đích của xét nghiệm ZnT8Ab là để chẩn đoán nhanh và chính xác nhằm điều trị kịp thời.
Điều trị bệnh tiểu đường như thế nào?
Bệnh tiểu đường là một bệnh lý phức tạp mà bạn không thể tự điều trị. Bác sĩ sẽ giúp bạn vạch ra một kế hoạch điều trị tiểu đường phù hợp với bạn, và dễ hiểu. Bạn có thể cần một vài bác sĩ chuyên khoa khác trong nhóm bác sĩ điều trị tiểu đường của mình. Gồm bác sĩ chuyên khoa bàn chân, bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng, bác sĩ chuyên khoa mắt và bác sĩ chuyên khoa tiểu đường (bác sĩ chuyên khoa nội tiết).
Điều trị tiểu đường đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ đường máu (và duy trì đường máu ở mức bác sĩ yêu cầu) với sự phối hợp giữa thuốc, thể dục và chế độ ăn. Bằng cách theo dõi sát việc ăn cái gì và ăn khi nào, bạn có thể hạn chế tối đa hoặc tránh được “hiệu ứng bập bênh” làm thay đổi đột ngột lượng đường máu, yêu cầu điều chỉnh ngay liều lượng thuốc, đặc biệt là insulin.
Thuốc điều trị bệnh tiểu đường
Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường loại 1, tụy của bạn không tiết đủ insulin mà cơ thể cần để sử dụng đường tạo năng lượng. Bạn sẽ cần insulin dưới dạng tiêm hoặc bơm liên tục. Học cách để tiêm insulin cho bản thân hoặc cho con bạn mới đầu dường như là phần làm nản lòng nhất trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường. Nhưng thật sự nó dễ dàng hơn bạn nghĩ nhiều.
Một số người mắc bệnh tiểu đường sử dụng bơm insulin được lập trình để cho ra lượng insulin như đã cài đặt. Khi sử dụng, bạn và bác sĩ sẽ lên chương trình để bơm này cho ra một lượng insulin hằng định trong cả ngày (liều căn bản – liều nền). Thêm vào đó, bơm cũng được cài đặt để cho ra liều insulin phù hợp với mức đường máu của bạn trước khi ăn (liều tác dụng nhanh).
Insulin có 5 loại:
- Insulin tác dụng nhanh (bắt đầu tác dụng trong một vài phút và kéo dài 2-4 tiếng)
- Insulin thường hay insulin tác dụng ngắn (bắt đầu tác dụng trong 30 phút và kéo dài 3 – 6 tiếng)
- Insulin tác dụng trung bình (bắt đầu tác dụng trong 1-2 tiếng và kéo dài 18 tiếng)
- Insulin tác dụng kéo dài (bắt đầu tác dụng trong 1-2 tiếng và kéo dài 24 tiếng)
- Insulin tác dụng đặc biệt kéo dài (ultra-long-acting) (bắt đầu tác dụng trong 1-2 tiếng và kéo dài 42 tiếng)
Insulin tác dụng nhanh dạng hít (ví dụ: Afrezza) cũng đã được FDA cho phép sử dụng trước khi ăn. Nó phải được phối hợp cùng insulin tác dụng kéo dài ở bệnh nhân tiểu đường loại 1 và không nên sử dụng ở bệnh nhân hút thuốc hoặc mắc bệnh phổi mạn tính. Insulin dạng này được chuẩn bị ở dạng liều đơn dùng một lần. Insulin hỗn hợp cũng có thể được chỉ định và có sẵn cho những bệnh nhân cần dùng nhiều hơn một loại insulin.
Degludec (Tresiba) là một loại insulin tác dụng đặc biệt kéo dài, cung cấp một lượng insulin nền kéo dài hơn 42 tiếng. Nó cũng có sẵn ở dạng phối hợp với insulin tác dụng nhanh (Ryzodeg 70/30).
Mỗi kế hoạch điều trị được thiết kế phù hợp với mỗi cá nhân và có thể điều chỉnh phụ thuộc vào khẩu phần ăn, cường độ vận động cũng như những thời điểm bị stress/căng thẳng hoặc bị bệnh.
Bằng cách kiểm tra mức đường máu, bạn có thể nắm được sự thay đổi về nhu cầu insulin của cơ thể và có thể trao đổi với bác sĩ để tìm ra liều insulin tốt nhất cho mình.
Người mắc bệnh tiểu đường thường kiểm tra đường máu nhiều lần trong ngày bằng một dụng cụ gọi là máy đo đường máu (glucometer). Máy này có thể đo lượng đường trong máu, thường được lấy từ đầu ngón tay thấm qua một dải giấy thấm đặc biệt. Hiện nay cũng có thiết bị mới là hệ thống đo glucose máu liên tục (continuous glucose monitoring systems, CGMS) gắn vào cơ thể để đo đường máu cứ vài phút một lần trong suốt một tuần. Tuy nhiên, hệ thống này kiểm tra đường máu qua da chứ không phải qua máu. Do vậy ít chính xác hơn máy đo đường máu theo cách thông thường.
Một số trường hợp bệnh tiểu đường loại 2 thì ăn kiêng và tập thể dục là đủ để kiểm soát đường máu. Một vài bệnh nhân sẽ cần đến thuốc, bao gồm insulin và một số thuốc dạng uống.
Thuốc điều trị bệnh tiểu đường loại 2 hoạt động theo nhiều cách khác nhau để đưa đường máu trở về mức bình thường. Chúng bao gồm:
- Thuốc làm tăng sản xuất insulin của tụy, bao gồm: chlorpropamide (Diabinese), glimepiride (Amaryl), glipizide (Glucotrol), glyburide (Diabeta, Micronase), nateglinide (Starlix) và repaglinide (Prandin).
- Thuốc làm giảm hấp thu đường ở ruột, ví dụ: acarbose(Precose) and miglitol (Glyset)
- Thuốc làm tăng tác dụng của insulin, ví dụ pioglitazone (Actos) và rosiglitazone (Avandia).
- Thuốc làm giảm sản xuất đường tại gan và giảm kháng insulin, ví dụ: metformin (Glucophage).
- Thuốc làm tăng sản xuất insulin ở tuỵ hoặc tăng mức insulin trong máu và/hoặc giảm sản xuất đường tại gan. Bao gồm: albiglutide (Tanzeum), alogliptin (Nesina), dulaglutide (Trulicity), linagliptin (Tradjenta), exenatide (Byetta, Bydureon), liraglutide (Victoza), saxagliptin (Onglyza), and sitagliptin (Januvia).
- Thuốc ngăn cản tái hấp thu glucose ở thận và tăng thải glucose qua nước tiểu. Gọi là thuốc ức chế sodium-glucose co-transporter 2 (SGLT2): canaglifozin (Invokana), dapagliflozin (Farxiga), và empagliflozin (Jardiance).
- Pramlinitide là một hormone tổng hợp dạng tiêm. Nó có tác dụng làm giảm đường máu sau khi ăn ở những bệnh nhân tiểu đường có sử dụng insulin.
(Tên thuốc bao gồm tên hóa học chung và tên thuốc tại Mỹ ghi trong dấu ngoặc)
Một số viên thuốc chứa nhiều hơn một loại thuốc điều trị bệnh tiểu đường. Chúng bao gồm empagliflozin/linagliptin (Glyxambi) mới được cấp phép gần đây. Thành phần của nó gồm có thuốc ức chế SGLT2 làm ngăn chặn tái hấp thu glucose ở thận kết hợp với thuốc ức chế DPP-4. Làm tăng hormone kích thích tụy tăng tiết insulin và làm giảm sản xuất glucose tại gan.
Dinh dưỡng và thời gian ăn cho bệnh nhân bệnh tiểu đường
Một chế độ ăn kiêng cân bằng hợp lý là điều rất cần thiết với bệnh nhân tiểu đường. Vì vậy hãy làm việc với các bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để đề ra một kế hoạch dinh dưỡng hợp lý. Nếu bạn mắc bệnh tiểu đường loại 1. Thời gian của liều insulin phụ thuộc vào hoạt động và chế độ ăn của bạn. Bạn ăn khi nào và ăn bao nhiêu cũng quan trọng như là bạn ăn cái gì. Thông thường, bác sĩ sẽ đề nghị 3 bữa ăn chính và 3 hoặc 4 bữa ăn nhẹ mỗi ngày để duy trì sự cân bằng thích hợp giữa mức insulin và lượng đường trong máu.
Sự cân bằng giữa tinh bột (carbohydrates), đạm (proteins) và chất béo (lipids) trong thực đơn sẽ giúp giữ mức đường máu đạt mục tiêu. Lượng của mỗi thành phần trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cân nặng và sở thích của bạn. Theo dõi lượng carbohydrate – nghĩa là biết được bạn cần bao nhiêu và bạn đã ăn bao nhiêu. Là chìa khóa để kiểm soát đường máu. Nếu bạn thừa cân hãy lựa chọn thực đơn có ít carbohydrate, ít chất béo/ít năng lượng hay ăn kiêng kiểu Mediterenean có thể giúp quản lý cân nặng. Chất béo bão hòa trong thực đơn của bạn không nên nhiều hơn 7% và bạn cũng nên hạn chế chất béo chuyển hóa.
Tập thể dục trong tiểu đường
Một yếu tố quan trọng khác trong chương trình kiểm soát bệnh tiểu đường là tập thể dục. Dù là bệnh tiểu đường loại nào, bạn hãy bàn bạc với bác sĩ trước khi bắt đầu các chương trình tập thể dục. Tập thể dục giúp tăng hoạt động của insulin và có thể giúp hạ đường máu. Để ngăn ngừa hạ đường huyết quá thấp gây nguy hiểm. Hãy kiểm tra đường máu của bạn và nếu cần thiết có thể ăn một ít thực phẩm chứa carbohydrate khoảng 30 phút trước khi tập thể dục. Nếu bạn cảm thấy có triệu chứng của hạ đường huyết. Dừng tập thể dục và bổ sung đường bằng thực phẩm hoặc nước uống có carbohydrates. Đợi 15 phút, kiểm tra lại đường máu. Nếu vẫn còn quá thấp thì có thể ăn thêm một lần nữa.
Tập thể dục có thể giúp giảm đường máu ở một số người mắc bệnh tiểu đường loại 2 và có thể ngăn ngừa bệnh ở những người có nguy cơ mắc bệnh.
Với bệnh nhân tiểu đường (ở cả 2 loại). Tập thể dục có thể làm giảm khả năng bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim và cải thiện tuần hoàn. Tập thể dục cũng có thể làm giảm stress. Bệnh nhân tiểu đường loại 2 cần phải giảm cân có thể có nhiều lợi ích từ các hoạt động thể dục mức trung bình. Hầu hết bệnh nhân sẽ được khuyến khích tập thể dục ít nhất 150 phút một tuần với các hoạt động thể lực mức độ trung bình, ví dụ như đi bộ. Thông thường những bài tập sức cơ sẽ được khuyến khích ít nhất 2 lần một tuần. Hãy nói chuyện với bác sĩ để biết được cách tập nào là phù hợp với bạn.
Thay đổi lối sống với bệnh tiểu đường
Người mắc bệnh nên đeo một vòng tay hoặc miếng dán (MedicAlert) trên đó ghi chú mình mắc bệnh tiểu đường. Nó sẽ giúp những người khác biết được tình trạng bệnh của bạn khi bạn bị hạ đường máu nghiêm trọng và không được tỉnh táo. Hoặc trong trường hợp bạn bị tai nạn và cần chăm sóc y tế khẩn cấp.
Việc nhận biết rằng bạn đang mắc bệnh tiểu đường là rất quan trọng vì hạ đường huyết có thể bị nhầm lẫn với say rượu. Và nạn nhân thường không có khả năng tự chăm sóc bản thân. Nếu không được điều trị ngay, hạ đường huyết có thể dẫn đến hôn mê hay co giật. Ngoài ra, vì cơ thể sẽ chịu nhiều stress hơn khi bạn bị bệnh hoặc chấn thương. Đường máu của bạn cần được kiểm tra bởi các nhân viên y tế hoặc bác sĩ cấp cứu cho bạn.
Hãy chăm sóc răng miệng thật tốt vì bệnh tiểu đường có thể làm nặng thêm các bệnh lý nha chu.
Các phương pháp điều trị thay thế ở bệnh tiểu đường
Vitamins và muối khoáng
Không bao giờ được điều trị bệnh tiểu đường chỉ với những thuốc thuộc nhóm này. Tuy nhiên, có những điều bạn có thể làm ngoài việc sử dụng thuốc, ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên. Để kiểm soát mức đường máu và hạn chế các biến chứng của bệnh tiểu đường.
Crom và biotin: Mặc dù Crom có thể ảnh hưởng đến insulin và chuyển hóa glucose. Chưa có bằng chứng nào về lợi ích của việc bổ sung Crom trong điều trị bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, Crom có thể tìm thấy ở rất nhiều thức ăn, ví dụ: rau xanh, đậu và ngũ cốc. Có nhiều nghiên cứu cho rằng biotin hay còn gọi là Vitamin H khi sử dụng cùng với Crom sẽ làm tăng chuyển hóa đường ở bệnh nhân tiểu đường. Tuy nhiên, không có một nghiên cứu nào cho thấy việc sử dụng biotin đơn độc là có tác dụng.
Vitamin B6 và B12: Hai vitamins này có thể giúp điều trị đau thần kinh do tiểu đường nếu nồng độ những vitamin này trong máu thấp. Và tình trạng này góp phần gây đau thần kinh. Những trường hợp còn lại thì không có bằng chứng chứng minh tác dụng của chúng trong điều trị bệnh tiểu đường.
Vitamin C: Vitamin C trong máu có thể thấp do thiếu insulin (insulin được cho là có vai trò trong việc hấp thu vitamin C). Lượng vitamin C hợp lý có thể giúp cơ thể duy trì mức cholesterol trong giới hạn tốt và giữ mức đường máu trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, sử dụng nhiều vitamin C có thể gây sỏi thận và các vấn đề khác. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng.
Vitamin E: Vitamin E có thể hạn chế tổn thương mạch máu và bảo vệ thận và mắt khỏi các biến chứng. Tuy nhiên, quá nhiều vitamin E có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, như tăng nguy cơ đột quỵ. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung loại vitamin này.
Magie: Magie giúp kiểm soát mức đường máu. Một vài bệnh nhân bệnh tiểu đường bị thiếu Magie nghiêm trọng. Bổ sung Magie trong trường hợp này có thể giúp cải thiện tác dụng của insulin.
Tương tác tinh thần/cơ thể: Liệu pháp tâm tưởng, liệu pháp phản hồi sinh học (biofeedback), thiền, liệu pháp thôi miên và yoga. Có thể làm giảm các hormones liên quan tới stress, có thể giúp ổn định đường huyết. Liệu pháp phản hồi sinh học còn có thể giúp hạ huyết áp. Tuy nhiên cần thêm nhiều nghiên cứu nữa để chứng minh vai trò của nó trong điều trị bệnh tiểu đường và cao huyết áp.
Sử dụng cây thuốc: Thuốc kem Capsaicin, một loại thuốc mỡ địa phương được làm từ cây ớt cayenne. Đã được ghi nhận là có thể giúp giảm đau tay chân ở một vài bệnh nhân bị tổn thương thần kinh do bệnh tiểu đường. Tuy nhiên những bệnh nhân đã mất cảm giác ở tay và/hoặc chân. Nên cẩn trọng khi sử dụng thuốc này vì họ có thể không cảm nhận được cảm giác bỏng gây ra do thuốc. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi định sử dụng loại sản phẩm này.
Tinh dầu hoa anh thảo: Tinh dầu này được cho là có tác dụng ở giảm đau ở bệnh thần kinh do tiểu đường. Tuy nhiên công dụng này vẫn chưa được chứng minh.
Bạch quả, tỏi, húng quế, quả cà ri, nhân sâm và táo gai là những vị thuốc khác đã từng được coi là có tác dụng điều trị triệu chứng bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, cần thêm nhiều nghiên cứu để chứng minh vai trò của chúng. Hãy hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng bất cứ loại cây nào.
Xét nghiệm HbA1c
Bài này sẽ đề cập đến ba vấn đề
- Tầm quan trọng của xét nghiệm HbA1c
- Nguyên lý của xét nghiệm HbA1c
- Thế nào là giá trị HbA1c bình thường?
Tầm quan trọng của xét nghiệm HbA1c
Xét nghiệm HbA1c, hay còn gọi là xét nghiệm đường trong hồng cầu, cho biết mức đường huyết trung bình trong vòng 2-3 tháng vừa qua. Đây là xét nghiệm quan trọng mà các bệnh nhân tiểu đường cần lặp lại định kỳ. Để kiểm tra xem bệnh tình có nằm trong tầm kiểm soát hay không. Xét nghiệm HbA1c còn được dùng để chẩn đoán bệnh tiểu đường.
Nguyên lý của xét nghiệm HbA1c
Trong hồng cầu có chứa hemoglobin có khả năng vận chuyển oxy đến mọi nơi trong cơ thể. Trong bệnh tiểu đường, đường tích tụ lại trong máu và kết hợp với hemoglobin tạo thành dạng phức hợp đường-hemoglobin. Vì hồng cầu có tuổi thọ tầm 3 tháng. Xét nghiệm đo lượng phức hợp này cho biết giá trị đường huyết trung bình trong 3 tháng trước đó. Nếu giá trị đường huyết trong vòng vài tuần qua tăng cao lên. Thì giá trị đường trong hồng cầu cũng tăng cao.
Bảng so sánh giá trị HbA1c và đường huyết
| HbA1c (%) | Đường huyết trung bình (mg/dL) |
| 6 | 68 |
| 5 | 97 |
| 6 | 126 |
| 7 | 152 |
| 8 | 183 |
| 9 | 212 |
| 10 | 240 |
| 11 | 269 |
| 12 | 298 |
| 13 | 326 |
| 14 | 355 |
Thế nào là giá trị HbA1c bình thường?
Người bình thường không bị tiểu đường sẽ có giá trị HbA1c trong khoảng 4% đến 5.6%. Giá trị HbA1c trong từ 5.7% đến 6.4% được coi là có nguy cơ bị tiểu đường cao, và trên 6.5% có chẩn đoán là bị tiểu đường. Nhiều nghiên cứu đã liên tục cho thấy để bệnh tiểu đường ngoài tầm kiểm soát sẽ dẫn đến nhiều biến chứng có hại. Giá trị HbA1c càng cao thì nguy cơ biến chứng càng cao.
Vì thế mục tiêu cho bệnh nhân tiểu đường là kiểm soát để giá trị HbA1c không vượt quá 7%. Tuy nhiên, việc đặt mục tiêu HbA1c quá thấp, tức kiểm soát tiểu đường quá chặt. Có thể dẫn đến các tác dụng phụ như hạ đường huyết và tăng tỉ lệ tử vong. Tùy theo độ tuổi, tổng trạng sức khỏe và tiên lượng sống mà mức HbA1c mục tiêu có thể đặt cao hơn và bạn nên thảo luận với bác sĩ để quyết định.
Việc kết hợp chế độ ăn uống phù hợp, tập thể dục cùng với thuốc điều trị có thể giúp làm giảm chỉ số HbAc1.
Cứ 3 tháng một lần, bệnh nhân tiểu đường nên làm xét nghiệm HbA1c. Để kiểm tra xem lượng đường huyết có được kiểm soát hay không. Ngay cả khi bệnh ổn định cũng nên kiểm tra ít nhất 2 lần một năm.
Lưu ý là các bệnh liên quan đến hemoglobin. Ví dụ như bệnh thiếu máu, có thể làm sai lệch kết quả xét nghiệm HbA1c. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác cũng có thể làm ảnh hưởng đến xét nghiệm này. Như việc uống bổ sung vitamin C và E, hoặc nồng đồ cholesterol cao. Các bệnh về thận và gan cũng có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống
Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống đo khả năng cơ thể sử dụng một loại đường, gọi là glucose, mà cơ thể sử dụng như nguồn năng lượng chính. Xét nghiệm này có thể dùng để chẩn đoán trạng thái tiền tiểu đường và bệnh tiểu đường nhưng thường được dùng nhất cho việc chẩn đoán tiểu đường thai kỳ.
Tại sao phải làm xét nghiệm này?
Xét nghiệm này được dùng để:
- Kiểm tra xem thai phụ có bị tiểu đường thai kỳ hay không. Phụ nữ mang thai có rủi ro bị tiểu đường thai kỳ nếu:
- Đã từng bị tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước.
- Đã từng sinh con nặng hơn 4.1 kg (theo tiêu chuẩn Mỹ).
- Trẻ hơn 25 tuổi và bị béo phì trước khi có thai.
- Chẩn đoán trạng thái tiền tiểu đường và bệnh tiểu đường
Chuẩn bị làm xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống:
- Duy trì chế độ ăn uống có chứa ít nhất 150 gram carbohydrate (tinh bột) mỗi ngày trong vòng 3 ngày trước khi làm xét nghiệm. Các thực phẩm như hoa quả, bánh mì, ngũ cốc, các loại hạt, gạo, bánh quy ngũ cốc, và các loại củ quả chứa nhiều tinh bột như khoai tây, các loại đậu, và ngô đều có hàm lượng carbohydrate cao.
- Không ăn uống, hút thuốc và tập thể dục trong vòng ít nhất 8 tiếng trước khi lấy mẫu máu đầu tiên.
- Thông báo cho bác sĩ biết tất cả các loại thuốc hiện đang sử dụng. Tùy từng loại thuốc mà có thể phải ngừng uống trước khi xét nghiệm.
Xét nghiệm có thể kéo dài đến 4 tiếng. Vì bất kỳ hoạt động nào cũng có thể làm ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn ngồi yên trong suốt quá trình làm xét nghiệm. Bạn không được ăn gì và chỉ có thể uống nước lọc cho đến khi kết thúc xét nghiệm.
Hãy hỏi bác sĩ nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến việc liệu có phải làm xét nghiệm hay không, rủi ro khi làm xét nghiệm, hoặc quá trình làm xét nghiệm. Có thể sử dụng danh sách các câu hỏi này để tham khảo khi nói chuyện với bác sĩ.
Quá trình làm xét nghiệm
Xét nghiệm dung nạp glucose đường uống (Nguồn ảnh: nytimes.com)
Xét nghiệm được tiến hành theo các bước sau:
- Mẫu máu đầu tiên được lấy ngay khi mới đến. Mẫu máu này được dùng để đo nồng độ đường huyết khi đói. Đây là tiêu chuẩn để so sánh với kết quả các mẫu máu sau đó.
- Bệnh nhân sẽ uống một loại nước ngọt chứa hàm lượng glucose nhất định, thường là 75 hoặc 100 gram glucose.
- Mẫu máu sẽ được lấy sau đó 1, 2 hoặc đôi khi là 3 tiếng. Tùy trường hợp, bác sĩ cũng có thể chỉ định lấy mẫu máu sau 30 phút, hoặc sau hơn 3 tiếng.
Lấy mẫu máu theo các bước sau:
- Quấn một dây đàn hồi quanh phần trên của bắp tay để ngăn máu lưu thông. Việc này khiến cho tĩnh mạch phía dưới chỗ dây quấn phình to ra để dễ chích kim vào tĩnh mạch.
- Khử trùng chỗ sẽ chích kim bằng cồn.
- Chích kim tiêm vào tĩnh mạch. Một số trường hợp khó, y tá có thể phải chích vài lần kim mới vào tĩnh mạch.
- Lấy máu vào ống xilanh hoặc ống nghiệm gắn liền.
- Tháo dây nhựa khỏi bắp tay khi đã lấy đủ máu.
- Ấn gạc hoặc bông vào chỗ chích kim sau khi rút kim ra.
- Tiếp tục ấn/đè bông vào chỗ đã chích kim để cầm máu và băng lại.
Cảm giác khi làm xét nghiệm
Bạn sẽ có thể cảm thấy khó nuốt loại nước ngọt xét nghiệm vì hàm lượng đường rất cao. Một số người thấy khó chịu sau khi uống và có thể nôn ra. Khi đã nôn ra thì xét nghiệm phải dừng lại và bạn phải làm lại vào ngày khác.
Mẫu máu được lấy từ tĩnh mạch ở khuỷu tay. Khi quấn dây đàn hồi trên cánh tay để chuẩn bị lấy máu, bạn có thể cảm thấy bị thít chặt. Có người không cảm thấy gì khi y tá chích kim vào tay, nhưng cũng có người cảm thấy nhói đau.
Bạn có thể sẽ cảm thấy chóng mặt sau khi bị lấy máu vài lần trong một ngày. Tuy nhiên lượng máu bị lấy không đủ để gây ra thiếu máu nghiêm trọng.
Rủi ro
Ở một số người, nồng độ đường huyết giảm xuống thấp vào giai đoạn cuối xét nghiệm. Cũng có một số người thấy có triệu chứng như hạ đường huyết mà thực tế mức đường huyết lại không thấp. Triệu chứng của hạ đường huyết bao gồm cảm thấy yếu người, đói, ra mồ hôi và căng thẳng đứng ngồi không yên. Nếu có các triệu chứng này, hãy nói cho bác sĩ hoặc y tá vì bạn có thể sẽ được kiểm tra đường huyết ngay bằng máy đo đường huyết. Nếu đường huyết hạ rất thấp, xét nghiệm sẽ được dừng lại.
Có rất ít rủi ro khi bị lấy mẫu máu.
- Chỗ lấy máu sẽ có thể xuất hiện vết bầm nhỏ. Đó là do chảy máu trong (xuất huyết trong) và nguy cơ này có thể giảm bớt bằng cách ấn mạnh vào chỗ lấy máu vài phút sau khi rút kim.
- Tĩnh mạch ở chỗ lấy máu có thể bị nóng đỏ, sưng tấy. Hiện tượng này gọi là viêm tĩnh mạch, rất hiếm khi xảy ra và có thể chữa bằng cách chườm nóng vài lần trong ngày.
- Chảy máu kéo dài có thể xảy ra ở các bệnh nhân bị rối loạn đông máu. Việc dùng một số thuốc như aspirin, warfarin (tên thương mại là coumadin) và một số thuốc làm máu khó đông khác có thể dễ gây chảy máu. Hãy thông báo cho y tá hoặc bác sĩ trước khi lấy máu nếu bạn có các vấn đề về đông máu.
Kết quả xét nghiệm
Xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống đo khả năng cơ thể sử dụng một loại đường, gọi là glucose, mà cơ thể sử dụng như nguồn năng lượng chính.
Nồng độ đường huyết bình thường
Bảng thống kê dưới đây liệt kê ra các giá trị được coi là bình thường. Tuy nhiên số liệu này chỉ mang tính chất tham khảo vì các trung tâm xét nghiệm khác nhau có thể có các tiêu chuẩn khác nhau. Trong bảng kết quả nhận được thông thường sẽ có ghi khoảng giá trị nào là bình thường đối với nơi xét nghiệm đó. Ngoài ra bác sĩ sẽ đánh giá kết quả dựa trên sức khoẻ bệnh nhân và nhiều yếu tố khác. Vì thế kết quả nằm ngoài số liệu bình thường nêu dưới đây vẫn có thể là bình thường đối với phòng xét nghiệm đó hoặc bệnh nhân đó.
Bảng giá trị đường huyết bình thường khi làm xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống
| 75 gram glucose | Mẫu máu đầu tiên | ≤ 100 mili-gram/deci-lit (mg/dL) (tương đương 5.6 mmol/L) |
| 1 tiếng sau | < 184 mg/dL (tức 10.2 mmol/L) | |
| 2 tiếng sau | < 140 mg/dL (tức 7.7 mmol/L) |
Nếu đường huyết sau 2 tiếng nằm trong khoảng 140-199 mg/dl, bạn đang ở trạng thái tiền tiểu đường.
Đối với phụ nữ mang thai, có một số cách chẩn đoán và tiêu chuẩn khác nhau được khuyến khích bởi các Hiệp hội khác nhau.
Trong chẩn đoán 2 bước, một xét nghiệm nữa thường sẽ được làm trước khi thực hiện xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống với 100 gram glucose. Khi làm xét nghiệm này thì không cần phải nhịn ăn. Đầu tiên bạn sẽ uống nước có chứa 50 gram glucose và một giờ sau thì lấy máu. Nếu giá trị đường huyết cao, ví dụ cao hơn 140 mg/dl (tức 7.8 mmol/l), thì bạn sẽ phải làm xét nghiệm tiếp theo với 100 gram glucose.
Bảng dưới đây giới thiệu các tiêu chuẩn và mức đường huyết thường dùng để chẩn đoán tiểu đường thai kỳ. Hãy hỏi thêm bác sĩ hoặc nơi thực hiện xét nghiệm.
| Cách làm | Tiêu chuẩn | Mẫu đầu tiên | 1 tiếng sau | 2 tiếng sau | 3 tiếng sau |
| Hai bước (100 gram glucose) | Carpenter& Coustan | 95 mg/dl (5.3 mmol/l) | 180 mg/dl (10.0 mmol/l) | 155 mg/dl (8.6 mmol/l) | 140 mg/dl (7.8 mmol/l) |
| NDDG | 105 mg/dl (5.8 mmol/l) | 190 mg/dl (10.6 mmol/l) | 165 mg/dl (9.2 mmol/l) | 145 mg/dl (8.0 mmol/l) | |
| Một bước (75 gram glucose) | WHO | 92-125 mg/dl (5.1-6.9 mmol/l) | 180 mg/dl (10.0 mmol/L) | 153-199 mg/dl (8.5-11 mmol/l) | |
| IADPSG | 92-125 mg/dl (5.1 mmol/l) | 180 mg/dl (10.0 mmol/l) | 153 mg/dl (8.5 mmol/l) |
Carpenter&Coustan: dựa trên nghiên cứu của Carpenter và Coustan xuất bản năm 1982, hiện vẫn được sử dụng ở nhiều nơi, NDDG: National Diabetes Data Group (Số liệu quốc gia về tiểu đường của Mỹ); WHO: World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới); IADPSG: International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups (Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu tiểu đường và mang thai).
Nồng độ đường huyết cao
Nồng độ đường huyết cao có thể do các nguyên nhân sau:
- Bị bệnh tiểu đường.
- Bị tiểu đường thai kì
- Bệnh cường giáp.
- Một số thuốc, như corticosteriods, niacin, phenytoin (tên thương mại là Dilantin), thuốc lợi tiểu, và một số thuốc chữa cao huyết áp, thuốc chữa HIV, hoặc AIDS.
- Hội chứng Cushing (do cơ thể có quá nhiều hóc-môn cortisol).
- Các bệnh di truyền như bệnh thừa sắt (hemochromatosis).
- Bệnh u tủy thượng thận (Pheochromocytoma).
Nồng độ đường huyết thấp
Nồng độ đường huyết thấp có thể do các nguyên nhân sau:
- Một số loại thuốc như thuốc chữa tiểu đường, thuốc chữa rối loạn huyết áp (như propranolol), và một số thuốc chữa trầm cảm (như isocarbonxazid).
- Bệnh Addison (giảm sản xuất hóc-môn cortisol và aldosterone).
- Rối loạn chức năng tuyến giáp, hoặc suy tuyến yên.
- Ung thư tụy hoặc rối loạn chức năng tuyến tuỵ.
- Bệnh về gan.
Có nhiều yếu tố có thể làm thay đổi nồng độ đường huyết. Bác sĩ sẽ nói chuyện với bệnh nhân nếu có kết quả nào bất thường và kết quả đó có liên quan gì với các triệu chứng đã gặp và sức khoẻ trước đây.
Điều gì ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm?
Các yếu tố sau có thể khiến bạn không làm được xét nghiệm hoặc kết quả xét nghiệm không chính xác:
- Hút thuốc
- Uống rượu
- Mới trải qua phẫu thuật, mới bị ốm hoặc mới mắc bệnh truyền nhiễm
- Giảm cân do ăn kiêng
- Nằm liệt giường, nằm nhiều trên giường do bị bệnh.
Lưu ý
Ngay cả khi đã hết tiểu đường thai kỳ sau khi sinh, người mẹ vẫn có nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ lại ở lần mang thai tiếp theo, cũng như nguy cơ bị bệnh tiểu đường về sau. Bác sĩ sẽ yêu cầu làm lại xét nghiệm dung nạp glucose bằng đường uống vào 6-12 tuần sau khi sinh hoặc sau khi ngừng cho con bú. Nếu kết quả bình thường thì bạn vẫn phải kiểm tra tầm soát bệnh tiểu đường ít nhất là 3 năm một lần.
Chế độ ăn uống và phong cách sống dành cho người bị tiểu đường thai kỳ
Thay đổi lối sống, bao gồm chế độ ăn và hoạt động thể lực, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc điều trị tiểu đường thai kỳ. Nhiều thai phụ có thể kiểm soát lượng đường (glucose) trong máu chỉ nhờ thay đổi lối sống. Tuy nhiên, đa số vẫn cần sử dụng thuốc, ví dụ như insulin.
Một trong những cách tốt nhất để kiểm soát tiểu đường thai kỳ, đó là đảm bảo chế độ ăn uống của bạn cân bằng và đầy đủ dinh dưỡng. Tuy nhiên, khi nói đến chế độ ăn uống thì không có chế độ nào phù hợp với tất cả mọi người, vì vậy, lựa chọn chế độ cũng rất quan trọng để bạn có thể tận hưởng những món ăn trong thời kỳ mang thai.
Những bí quyết để ăn đúng
Cẩn thận với carbohydrate
Tất cả đồ ăn chứa carbohydrate đều ảnh hưởng đến lượng đường trong máu . Vì thế hãy cẩn thận với số lượng bạn sẽ ăn. Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe dành cho bệnh nhân tiểu đường sẽ có thể giúp bạn điều này. Bạn sẽ được tư vấn:
- Ăn ít đồ ăn carbohydrate
- Lựa chọn loại carbohydrate tốt
- Phân phối carbodyrate cả ngày.
Hãy lựa chọn các thực phẩm chứa carbohydrate bổ dưỡng, như thực phẩm giàu tinh bột, các loại đỗ, trái cây và rau. Hạn chế thu nạp thực phẩm chứa carbohydrate đã qua xử lý như bánh mỳ trắng, ngũ cốc tinh chế và đồ ăn sẵn, có nhiều chất béo, muối và đường.
*Carbs: Carbohydrate, bao gồm đường, tinh bột và chất xơ có trong trái cây, ngũ cốc, rau quả và các sản phẩm từ sữa.
Xuống “thấp”
Những thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp sẽ giúp bạn điều khiển lượng đường trong máu. Một số lựa chọn gồm có: ngũ cốc, cháo, bánh mỳ nhiều lớp, bánh mỳ có rắc hạt, mỳ ống nguyên hạt, gạo Basmati (Ấn Độ), mứt, chuối (dùng để nấu), đỗ, đậu lăng, và phần lớn các loại trái cây và rau.
Ít đường
Hãy tìm cách giảm lượng đường bạn đưa vào cơ thể.
Bằng những cách như:
Hạn chế sử dụng đồ ăn chế biến sẵn, đặc biệt là đồ uống có đường, đồ ăn vặt, và đồ tráng miệng
- Đọc kỹ nhãn thực phẩm, đồ uống và lựa chọn loại ít đường hoặc đã được giảm đường nếu có thể.
Để ý những tên gọi khác nhau của đường trên nhãn sản phẩm: sucrose, glucose, dextrose, fructose, lactose, maltose, honey (mật ong), invert sugar (đường nghịch đảo), syrup (xi-rô), corn sweetener và molasses (đường mật).
Tự chế biến đồ ăn và thử nghiệm hạn chế dùng đường
Sử dụng chất tạo ngọt nhân tạọ Tuy một số người thường tỏ ra lo lắng về độ an toàn của chất tạo ngọt, trong trường hợp đó, bạn có thể trao đổi với chuyên gia chăm sóc sức khỏe nếu cần.
Ăn đều đặn
Hãy ăn đều đặn, thường là ba bữa một ngày, kèm hoặc không kèm đồ ăn vặt lành mạnh, và tránh để các bữa ăn cách nhau quá lâu. Cách làm này sẽ giúp bạn kiểm soát cảm giác thèm ăn và lượng đường trong máu.
Hoàn thiện khẩu phần ăn
Cách làm này sẽ giúp bạn kiểm soát lượng đường trong máu và tránh bị quá cân trong thai kỳ.
Tránh thực phẩm “dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường ”
Chúng không đem lại lợi ích sức khỏe gì đặc biệt, đắt và có thể gây ra hiện tượng nhuận tràng.
Ăn nhiều bữa một ngày
Ăn nhiều rau trong bữa ăn và ăn đồ ăn vặt làm từ rau quả thay vì bánh bích quy, đồ ngọt, và khoai tây chiên. Đừng dùng quá nhiều nước ép trái cây và sinh tố (uống không quá 1 cốc 150ml một ngày) và ăn trái cây dàn trải xuyên suốt một ngày thay vì ăn một lượng lớn trong một bữa.
Một khẩu phần phù hợp có thể gồm:
- 1 miếng trái cây, ví dụ như chuối hoặc táo
- 1 nắm nho
- 1 thìa trái cây khô
Cá và tiểu đường thai kỳ
Cá rất tốt cho sức khỏe của bạn và sự phát triển của thai nhi. Vì thế bạn có thể ăn cá thường xuyên. Khuyến nghị bạn nên ăn ít nhất hai phần cá (mỗi phần khoảng 140g) mỗi tuần, bao gồm một hoặc hai phần cá béo (cá chứa dầu trong thịt), như cá thu, cá mòi, cá hồi, cá trích. Cá béo còn rất tốt cho tim mạch, tuy nhiên không nên ăn quá hai phần một tuần.
Hãy tránh những loại cá có mức độ thủy ngân cao hơn như cá kiếm, cá mập và cá cờ xanh, và hạn chế cá ngừ (chúng thường cũng có hàm lượng thủy ngân tương đối cao), ở mức bốn lon cỡ trung bình hoặc hai miếng bít tết cá ngừ một tuần. Ngoài ra người ta cũng khuyên nên tránh ăn những loài có vỏ (ngao, sò, ốc, hến) sống, để giảm nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm, vốn không dễ chịu trong lúc mang thai.
Kiểm soát cân nặng
Đừng cố gắng giảm cân trong khi đang mang thai – điều này sẽ không an toàn cho cả bạn và thai nhi. Tuy nhiên, một chút thay đổi nhỏ trong chế độ dinh dưỡng và mức độ hoạt động thể chất sẽ giúp bạn tránh tăng quá cân trong thời gian mang thai. Điều này cũng giúp bạn kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ tốt hơn và giảm nguy cơ bị biến chứng.
Ngoài ra, việc duy trì chế độ ăn uống và phong cách sống mới sau khi sinh con cũng rất quan trọng. Điều này sẽ giúp bạn giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai tiếp theo và đồng thời giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 2.
Hãy nhờ các chuyên gia sức khỏe giới thiệu một chuyên gia dinh dưỡng để giúp bạn việc này.
Đồ uống có cồn và tiểu đường thai kỳ
Tốt nhất là hoàn toàn không sử dụng đồ uống có cồn trong lúc mang thai. Việc tránh sử dụng đồ uống có cồn đặc biệt quan trọng trong ba tháng đầu tiên, bởi vì đồ uống có cồn thường đi kèm với gia tăng nguy cơ bị sẩy thai.
Uống rượu bia trong thai kỳ còn dẫn đến những ảnh hưởng xấu, lâu dài cho thai nhi. Bạn càng uống nhiều, nguy cơ càng cao. Đồ uống có còn có nhiều khả năng gây ra chứng hạ đường huyết, nếu bạn đang điều trị tiểu đường thai kỳ bằng insulin hoặc glibenclamide.
Thực phẩm có ích
Những thực phẩm bạn lựa chọn đều tạo nên sự khác biệt đối với cả đái tháo đường loại 1 và loại 2. Thực phẩm có đường hay tinh bột đều ảnh hưởng mạnh đến đường huyết của bạn. Hãy tuân thủ 1 chế độ ăn khỏe mạnh với sự phối hợp giữa rau củ với trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, đậu, cá, thịt nạc, sữa ít béo. Hãy hỏi ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng về bữa ăn và thời gian ăn tốt nhất.
Lập kế hoạch
Nghe theo lời khuyên của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để ngăn chặn sự tăng đường huyết sau ăn. Chú ý đến vấn đề bạn ăn bao nhiêu và bạn ăn cái gì? Kiểm tra loại thức ăn để biết hàm lượng các chất dinh dưỡng mà nó mang lại. Khi bạn ăn bên ngoài, hãy nhớ rằng thức ăn ở nhà hàng có thể phục vụ nhiều hơn lượng thức ăn bình thường. Hãy đem một phần về nhà.
Có một chế độ luyện tập thể dục hoàn hảo
Khi bạn lập được một chế độ luyện tập thành một thói quen chủ động, điều đó sẽ rất tốt cho việc kiểm soát đường huyết của bạn, đặc biệt đối với đái tháo đường loại 2. Cơ thể của bạn sẽ đáp ứng tốt hơn với insulin. Tập thể dục còn giúp các cơ trong cơ thể bạn sử dụng đường. Minh chứng cho điều này là các nghiên cứu đã cho thấy mức đường huyết cải thiện khi bạn vận động cơ thông qua quá trình luyện tập.
Tránh những ngộ nhận trong tập thể dục
Tập thể dục một cách điều độ có thể giúp bạn kiểm soát lượng đường huyết, tuy nhiên trong một vài trường hợp tập thể dục có thể làm hạ đường huyết. Để giữ mức đường huyết được ổn định, bác sĩ có thể đề nghị kiểm tra đường huyết trước và sau quá trình luyện tập thể dục. Mang theo một ít trái cây khi đi tập thể dục hoặc thuốc điều chỉnh đường huyết khi cần. Khi đường huyết hạ, hãy ăn nhẹ và nghỉ khoảng 15 phút. Hãy chắc chắn rằng đường huyết của bạn luôn trên mức 100mg/dl trước khi trở lại vận động.
Những gì cần làm để tránh hạ đường huyết
Stress có thể làm cho đường huyết tăng. Dành thời gian cho các sở thích, gặp gỡ bạn bè và nói không với những gì làm bạn “quá tải”. Nếu bạn tiếp cận với thuốc lá khi bị stress thì tốt nhất hãy bỏ thuốc lá. Hút thuốc có thể tăng nguy cơ biến chứng của đái tháo đường. Bao gồm biến chứng về bàn chân, tổn thương dây thần kinh, các bệnh về mắt, tim, thận.
Những thứ không ngờ tới nhưng ảnh hưởng đến đường huyết của bạn
- Rượu. Bạn chỉ nên uống rượu khi đường huyết của bạn ở mức ổn định.
- Bệnh tật. Khi bạn bị bệnh, hãy kiểm tra đường huyết một cách thường xuyên hơn, duy trì đủ nước và cố gắng ăn uống một cách điều độ.
- Du lịch. Thay đổi múi giờ có thể phá vỡ lịch trình. Hãy kiểm tra đường huyết của bạn trước và sau bữa ăn. Hỏi ý kiến bác sỹ nếu bạn cần đem theo thuốc để điều chỉnh đường huyết.
Tuân theo chỉ định điều trị
Việc tuân thủ điều trị rất cần thiết đối với sức khỏe của bạn. Hãy tuân theo lời khuyên của bác sĩ về chế độ luyện tập và chế độ ăn. Dùng thuốc đúng chỉ định. Đối với đái tháo đường loại 1 thì việc điều trị là insulin hoặc bơm insulin, có khi là với một loại thuốc tiêm khác. Đái tháo đường loại 2 thường được điều trị bằng thuốc như insulin hoặc các thuốc giúp insulin trong cơ thể hoạt động. Bác sĩ của bạn sẽ điều chỉnh kế hoạch điều trị tùy thuộc vào tuổi, cơ địa và lối sống của bạn.
Điều trị đái tháo đường bằng insulin
Khi bạn mắc bệnh đái tháo đường, cơ thể của bạn sẽ không sản xuất đủ insulin để điều chỉnh đường huyết. Bác sĩ có thể sẽ kê đơn insulin dựa vào thời gian mắc bệnh, loại đái tháo đường mà bạn đang mắc, mức đường huyết, sức khỏe hiện tại cũng như những loại thuốc khác mà bạn đang dùng.
Những dược phẩm có lẽ bạn cũng cần đến
Khi bạn sử dụng insulin, bạn có thể cần đến những loại thuốc khác để cải thiện mức đường huyết. Thuốc viên dùng trong đái tháo đường loại 2 có thể làm tăng insulin trong cơ thể và cải thiện tình trạng sức khỏe. Thuốc tiêm có thể làm chậm việc hấp thu glucose sau khi ăn và ảnh hưởng đến vị giác.
Bí quyết cho việc dùng insulin đường tiêm
Bác sĩ, y tá hay các nhân viên y tế khác có thể chỉ cho bạn cách tự tiêm insulin. Các vị trí tiêm insulin cần thay đổi để không hình thành sẹo. Ví dụ, tiêm insulin ở bụng trước khi ăn sáng ở một vị trí, tiêm ở một vị trí khác trên bụng khi ăn trưa và mặt trước đùi khi ăn tối. Tránh tiêm ở vị trí các khớp, vùng háng, rốn và ở vị trí các sẹo.
Bạn tiêm loại insulin gì?
Loại insulin mà bác sĩ chỉ định sẽ khác nhau về thời gian tác dụng, thời gian đạt đỉnh và thời gian bán hủy. Loại tác dụng nhanh, loại tác dụng chậm và loại hỗn hợp tùy thuộc vào bữa ăn. Loại tác dụng dài và trung bình có thể kéo dài đến 24 giờ.
Thời gian và bữa ăn
Nếu bạn sử dụng loại tác dụng ngắn và loại hỗn hợp, nó sẽ hoạt động khi bạn hấp thu thức ăn để tránh tình trạng hạ đường huyết. Dùng loại insulin có tác dụng ngắn trước ăn từ 30 – 60 phút. Loại hỗn hợp được dùng trước ăn 15 phút. Loại tác dụng nhanh thì dùng trước ăn 5 – 15 phút hoặc ngay sau khi ăn.
Bạn đã tiêm quá nhiều insulin?
Nếu bạn tiêm quá nhiều insulin, bạn có thể bị hạ đường huyết. Nếu bạn bắt đầu xuất hiện các triệu chứng như cảm thấy mệt, yếu hoặc run, hãy ăn hoặc uống cái gì đó có đường, nước ép chẳng hạn. Hoặc là uống đường viên. Hãy nói với bác sĩ những gì đã xảy ra để xác định được nhu cầu tiêm insulin của bạn là bao nhiêu.
Trường hợp bạn cần kiểm soát đường huyết hơn nữa
Nếu bạn gặp khó khăn trong việc kiểm soát insulin và đường huyết, bạn có lẽ sẽ cần đến bơm insulin. Nó có thể dễ dàng kiểm soát liều insulin và giữ cho mức đường huyết ổn định bằng một chương trình tính toán liều thuốc. Cho dù bạn dùng thuốc loại nào, bạn có thể luôn hỏi ý kiến của bác sĩ khi cần. Bạn cũng cần tìm ra cân bằng giữa chế độ ăn, tập thể dục và dùng thuốc.
Khi nào thì kiểm tra HbA1c
Test này có thể kiểm tra mức đường huyết trung bình của bạn trong vòng 2-3 tháng. Nó là một test đơn giản bạn có thể làm ở phòng khám của bác sĩ. Các chuyên gia khuyên bạn kiểm tra 2 lần/năm. Mức HbA1c mục tiêu của phần lớn người bị đái tháo đường là 7% hoặc thấp hơn. Nếu kết quả HbA1c cao, bác sĩ có thể sẽ kê thêm thuốc cho bạn.